Việt nam có đủ bằng chứng đòi lại Hoàng sa – Trường sa theo Công ước Quốc tế.


Đã nhiều năm nay, trong vấn đề tranh chấp Biển Đông (cũng như trong nhiều vấn đề khác), Trung Quốc dường như luôn sống trong “giấc mộng” mà chính bản thân họ tự vạch ra. Nhìn từ góc độ chiến lược, Trung Quốc không phải là không có cơ hội để chiếm ưu thế trong vấn đề Biển Đông này, mà thay vào đó lại tự động vứt bỏ những ưu thế đáng lẽ họ chiếm được … Điều đáng tiếc là, những hành động của Trung quốc  không những không chiếm được sự đồng cảm của các nước liên quan đến tranh chấp mà cuối cùng dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại, gây tổn hại cho chính lợi ích quốc gia của mình.
Vậy thì, kết quả cuối cùng sẽ như thế nào đây? Trung Quốc liệu sẽ từ bỏ chăng? Trong giới báo chí truyền thông vô cùng phát triển như ngày hôm nay, phạm vi xu hướng thỏa hiệp mà các nhà cầm quyền có thể áp dụng được ngày một nhỏ,càng không cần nói đến chuyện từ bỏ. Nếu tình hình này vẫn cứ tiếp diễn thì cuối cùng chắc chắn sẽ dẫn đến các cuộc xung đột xảy ra.Tuy nhiên xung đột trong thời gian này sẽ vô cùng bất lợi đối với Trung Quốc.
Vấn đề đã xuất hiện rồi, thì phái có cách đối phó lại. Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ tại sao lại xuất hiện tình trạng như vậy? Ngoài các vấn đề xuất phát từ chính bản thân Trung Quốc thì còn có một số nguyên nhân quan trọng khác nữa. Đối với các nước có liên quan mà nói thì đây là sản phẩm phát sinh từ “môi trường quốc tế” và “môi trường nội bộ”.

Việt nam có đủ bằng chứng đòi lại Hoàng sa – Trường sa theo Công ước Quốc tế.

Chủ-quyền lịch-sử của Việt-nam khá vững vàng ( so với những chấp-định gần như hoang-đường của Trung quốc ), có bằng-chứng ít nhất từ thế-kỷ XVII-XVIII, thì lại có một số yếu-tố mới được đem vào vấn-đề Hoàng-sa Trường-sa.  Đó là yếu-tố của sự công-nhận quốc-tế mà đại diện có uy-tín nhất là Liên-hiệp-quốc.
Ở Hội-nghị Hòa-bình San Francisco 1951, vì Nhật-bản dứt khoát bỏ hẳn việc đòi hỏi chủ-quyền trên các đảo ở Biển Đông/Nam-hải, Ngoại-trưởng Liên-Xô Andrei Gromyko đề nghị trao hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa cho Trung-quốc.  Tu-chính-án này bị Đại-hội bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và 1 phiếu trắng.  Sau đó, Thủ-tướng Trần Văn Hữu, người cầm đầu phái-đoàn Quốc gia Việt Nam  lên diễn-đàn công-bố chủ-quyền của Việt Nam tại Hoàng-sa và Trường-sa mà không gặp sự phản-kháng nào của 51 quốc gia tham-dự Hội-nghị, kể cả của Trung-quốc ( nghĩa là Trung-hoa Dân-quốc có mặt với tư-cách là một thành-viên trong Hội-đồng Bảo an LHQ ).
Đến hội-nghị Genève chia đôi Việt Nam ở vĩ-tuyến thứ 17 (1954) thì Điều 4 nói: “Giới-tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam (tức Vĩ-tuyến 17) kéo dài ra hải-phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển.  Lực-lượng Liên-hiệp Pháp (gồm quân-đội Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa , Pháp và đồng-minh) phải rút khỏi tất cả các hải-đảo tại phía Bắc giới-tuyến (tức Vĩ-tuyến 17).  Quân-đội Nhân-dân ,Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa  (tức Bắc-Việt ” Vi) phải rút khỏi tất cả các hải-đảo tại phía Nam giới-tuyến” (Vĩ-tuyến 17), nơi tọa-lạc các quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa ( tương-đương với từ vĩ-tuyến 17, Quảng-trị, xuống đến vĩ-tuyến 7, Nam Cà-mau ).
Như vậy cần phải nói thêm rằng . Hoàng sa và Trường sa do Chính quyền miền nam Việt nam tức là Chính quyền Việt nam Cộng Hòa lúc bấy giờ quản quản lý , năm 1974 Trung cộng xua quân đánh chiếm Hoàng sa và bằng chứng là trận hải chiến giữa Việt nam Cộng Hoà với Hải quân Trung cộng . Trên pháp lý Quốc tế , cho dù Ông phạm văn Đồng Thủ tướng nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà ( Bắc Việt ) lúc bấy giờ có ký Công hàm năm 1958 chấp nhận với Trung quốc . Công hàm đó vẫn vô giá trị, bởi Công hàm ký  1958 tức là sau Hội-nghị Genève năm 1954 . Hoàng sa – Trường sa không do bắc Việt  tức nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa quản lý. Trung quốc không có quyền khiếu kiện :
Đối với Trung quốc , vì Bắc-kinh có ký vào Hiệp-định Genève 1954 cũng như có ký vào Công-ước LHQ về Luật Biển ( UN Convention on the Laws of the Sea) năm 1982 (với tư-cách là một trong ngũ cường trong Hội-đồng Bảo an LHQ ) nên họ không thể bảo là họ không biết về những điều minh-thị ở trong đó.
Trong khi đó thì Công-ước LHQ về Luật Biển năm 1982 công-nhận. ngoài đường căn-bản hay cơ-sở ( baselines, lằn mức thủy-triều xuống thấp ), các quốc gia có quyền vẽ đường hải-phận đầu tiên của mình cách xa bờ từ 8 đến 15 hải-lý, xong đến biển lãnh-thổ (territorial sea) rộng 12 hải-lý là vùng biển nối tiếp đường căn-bản ra ngoài khơi, rồi đến thềm lục-địa
pháp-lý ( continental shelf ) 200 hải-lý ăn khớp với vùng đặc-quyền kinh tế ( EEZ, exclusive economic zone, tức quyền đánh cá ở đây và khai thác tài-nguyên ở dưới mặt biển như dầu khí, v.v. ) và thềm lục-địa địa-chất hay thềm lục-địa mở rộng ( extended continental shelf ) có thể kéo dài đến 350 hải-lý.  Về mặt địa-chất và địa-hình thì Hoàng-sa dứt khoát là một phần của thềm lục-địa VN ( dưới 200 hải-lý tính từ đường cơ-sở Việt Nam )  và Trường-sa thì nằm trong thềm lục-địa mở rộng hay nối dài của VN ( dưới 350 hải-lý, nghĩa là 600 cây số đường bay, trong khi đó Trường-sa cách Hải-nam của Trung-Cộng tới hơn 1000 hải-lý )
Về mặt pháp lý này, và mặt địa-lý, tác-giả Vũ Hữu San ở hải-ngoại là người nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ nhất qua mấy cuốn sách và website của ông.

Đường lưỡi bò và quan-niệm “nội-hải” của Trung-Cộng 

Yếu lý về mặt chủ-quyền lịch-sử và dựa theo Công-ước LHQ về Luật Biển, Trung-Cộng lại đưa ra (chính-thức vào hôm 7 tháng 5/2009) một đường giả-tưởng do một tác-giả Trung-hoa đưa ra từ năm 1947 mà khi thì được gọi là đường chín gạch (dotted line), khi thì được gọi là “đường lưỡi bò” hay “đường lưỡi rồng,” chiếm tới 80 phần trăm diện-tích của Biển Đông.
Nhưng cả đường lưỡi bò (hay lưỡi rồng) này cũng như quan-niệm coi biển Đông là một thứ “nội-hải” (như Động-đình-hồ, chẳng hạn) đều không được quốc-tế công-nhận nên những khẳng-định hay chấp-định này của Bắc-kinh xem ra không có khả-năng thuyết-phục được ai và lại làm phẩn nộ dư luận trên Thế giới   . 

 

 

Rất nhiều các quốc gia Châu Á đều cần sự hiện diện của Mỹ chính là do kết quả là hành động của Trung Quốc. Ví dụ, trong vấn đề Triều Tiên thì ngoài Triều Tiên ra, hầu hết tất cả các nước Châu Á đều bất mãn với cách hành xử của Trung Quốc. Tất nhiên là cũng có những điểm khó xử riêng nhưng không thể vì thế mà chứng minh rằng cách hành xử của Trung Quốc là hợp lý được. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản thường xuyên liệt vào trạng thái căng thẳng. Hiện nay cùng với sự trỗi dậy của Ấn Độ thì mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng hàm chứa rất nhiều những nhân tố không xác định. Mặc dù Trung Quốc và các nước khu vực Châu Á luôn có các lĩnh vực hợp tác chung, thế nhưng những cuộc xung đột dường như phát sinh ngày một phức tạp hơn. Dù thế nào đi chăng nữa, trong việc giải quyết các vấn đề khu vực Châu Á thì Mỹ vẫn là quốc gia duy nhất đã từng nhiều lần thông qua các cuộc trải nghiệm, hơn nữa, tính quan trọng của nhân tố Trung Quốc mặc dù ngày một tăng lên nhưng chưa hề thông qua bất kỳ một cuộc trải nghiệm nào cả. Trong bối cảnh như vậy, Mỹ vẫn chính là môt quốc gia đạt mức độ tin tưởng và được dựa dẫm cao nhất. Điều này cũng được thể hiện trong vấn đề Biển Đông, những nước có liên quan hy vọng có sự can thiệp của Mỹ và Úc tại khu vực xảy ra tranh chấp này, nhằm nâng cao tính chắc chắn của họ trong vấn đề ở Biển Đông .

Diễn Đàn Việt Nam Hải Ngoại

Về Việt Nam Diễn Đàn Hải Ngoại
Tránh ngộ nhận , hiểu sai tiếng việt trong mục phản hồi * Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: